Tình hình Việt Nam giai đoạn 1939-1945
Bối cảnh chính trị
Thế giới: Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1/9/1939). Pháp đầu hàng Đức (tháng 6/1940), mở đường cho Nhật xâm lược Đông Dương.
Việt Nam: Pháp tăng cường bóc lột, vơ vét của cải, nhân lực phục vụ chiến tranh. Nhật vào Đông Dương (tháng 9/1940), cấu kết với Pháp tiếp tục áp bức nhân dân. Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Thời điểm này, các đảng phái chính trị trong nước tăng cường hoạt động, lòng dân sục sôi cách mạng.
Bối cảnh kinh tế – xã hội
Kinh tế: Pháp – Nhật thi hành chính sách kinh tế chỉ huy, vơ vét tài nguyên, cướp đoạt ruộng đất, ép buộc nông dân trồng cây công nghiệp phục vụ chiến tranh. Nền kinh tế Việt Nam suy kiệt, mất cân đối, tài nguyên cạn kiệt.
Xã hội: Đời sống nhân dân lầm than, cơ cực dưới ách áp bức của Pháp – Nhật. Các cuộc đấu tranh chống Pháp – Nhật liên tiếp nổ ra.
Phong trào Giải phóng Dân tộc (9/1939 – 3/1945)
Hội nghị Trung ương Đảng 11/1939
Hội nghị xác định nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế Đông Dương ra đời.
Các cuộc khởi nghĩa mở đầu
Khởi nghĩa Bắc Sơn (9/1940): Nhân dân Bắc Sơn nổi dậy, tuy thất bại nhưng để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về khởi nghĩa vũ trang.
Khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940): Bùng nổ ở nhiều tỉnh Nam Kỳ, thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân, rút ra bài học về thời cơ khởi nghĩa.
Binh biến Đô Lương (1/1941): Binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp nổi dậy, thể hiện tinh thần yêu nước, góp phần vào phong trào đấu tranh chung.
Nguyễn Ái Quốc về nước và Hội nghị Trung ương 8 (5/1941)
Hội nghị Trung ương 8 hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng, khẳng định nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thành lập Mặt trận Việt Minh, xác định hình thái khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa.
Chuẩn bị và tiến hành Tổng khởi nghĩa
Xây dựng lực lượng
Đảng tập trung xây dựng lực lượng chính trị (Hội Cứu quốc), lực lượng vũ trang (Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân), và căn cứ địa cách mạng (Cao Bằng, Bắc Sơn – Võ Nhai).
Khởi nghĩa từng phần (3/1945 – 8/1945)
Nhật đảo chính Pháp tạo thời cơ cho cao trào kháng Nhật cứu nước. Khởi nghĩa nổ ra ở nhiều nơi, tiêu biểu là khởi nghĩa Ba Tơ (Quảng Ngãi).
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám (8/1945)
Nhật đầu hàng Đồng minh, Đảng phát lệnh Tổng khởi nghĩa. Khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội (19/8), Huế (23/8), Sài Gòn (25/8) và lan rộng khắp cả nước.
Thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945)
Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Kết luận
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do. Thắng lợi này có được nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tinh thần đoàn kết, đấu tranh bất khuất của toàn dân tộc và sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố khách quan và chủ quan.